30 thg 12, 2009

Trong Rừng Trúc - Akutagawa Ryūnosuke




Lời khai của người đốn củi với quan kiểm sát

Đúng đó, thưa quan lớn. Thấy được xác chết đó chính là tui đây chớ ai. Sáng nay tui lên rừng sâu đốn củi như mọi ngày, thì thấy có xác chết trong bụi cây khuất sau núi đó. Quan hỏi ở đâu hả? Thì cách chừng 4, 5 thôi đường (1) từ con đường lớn qua trạm thơ ở Yamashina đó mà. Chỗ đó vắng người, có nhiều cây tuyết-tùng (2) nhỏ lẫn trong bụi tre.

Xác chết nằm ngửa, mặc áo bào màu xanh lơ, đầu vẫn còn đội mũ xếp kiểu nhà quan trên kinh đô. Nói là chỉ bị đâm một dao thôi, chớ thiệt ra, vết thương nhằm ngay ngực, cho nên lá tre rụng chung quanh xác chết thấm đầy máu thâm tím. Không, máu đã hết chảy rồi, mà vết thương ngó bộ cũng đã khô rồi, thưa quan lớn. Lại có một con ruồi trâu bám riết trên vết thương, như thể không nghe cả tiếng chân tui bước tới nữa.

Quan hỏi có thấy đao kiếm chi không hả? Không, tui chẳng thấy có đao kiếm chi hết. Chỉ thấy có một đoạn dây rớt ở gốc cây tuyết-tùng gần đó. À, ngoài đoạn dây, còn có cái lược nữa. Chung quanh xác chết chỉ có hai vật đó thôi, thưa quan lớn. Nhưng mà, một vùng cỏ và lá tre rụng quanh đó thì bị giẫm đạp tan hoang, nên chắc chắn là anh ta trước khi bị giết chết, cũng đã chống chọi dữ lắm. Còn ngựa hả? Chỗ đó thì ngựa không vô lọt được. Lối cho ngựa chạy thì phải cách đó một cánh rừng mới có.

21 thg 12, 2009

Utopia - Thomas More

Utopia

“Trong suốt 5 thế kỷ qua kể từ ấn bản đầu tiên, Utopia vẫn được cả thế giới tìm đọc – bất kì lúc nào và ở đâu, nó cũng làm cho người đọc phải giật mình, xúc động, và bâng khuâng suy ngẫm về nhân tình thế thái. Nó nhắc nhở, bàn luận, phân tích, giải thích, gợi ý... về tất cả những vấn đề mà tôi và bạn vẫn quan tâm và đối mặt hàng ngày, từ chuyện trộm cắp nghiện ngập đĩ điếm nghèo khổ tham nhũng cho đến chuyện trách nhiệm của người trí thức, chuyện trọng dụng nhân tài, và tư chất của những người cầm cân nẩy mực trong xã hội. Nó bàn đến thế nào là khoái lạc, là hạnh phúc, cái gì là đáng quý, cái gì không. Nó lột trần những giả nguỵ của luật pháp hiện hành, những cái thậm vô lí của thói thường.” (Trích "Lời giới thiệu" của dịch giả Trịnh Lữ).

Lời người dịch

Bạn đang tự hỏi: đây là sách gì vậy? Không thấy đề là tiểu thuyết, cũng chẳng phải sách lịch sử, triết học, ngụ ngôn, du ký, ma quỷ... Mà tác giả lại là một vị thánh tử vì đạo rất xa lạ nữa chứ. Có đáng đọc không đây?

Hãy bình tĩnh một chút, bạn đang cầm trên tay một cuốn sách độc nhất vô nhị trên thế giới này đấy. Và đọc nó rồi, thể nào bạn cũng phải bàn tán về nó, tranh cãi về nó, cười bò ra vì nó, nổi giận với nó, cười nhạo nó, bâng khuâng buồn bã vì nó, và cảm thấy rằng – tôi hi vọng thế – cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc của chúng ta vẫn còn có hi vọng đến đích.

Nhẽ ra chỉ cần nói thể là đủ. Nhưng có lẽ bạn cũng thắc mắc không biết cuốn sách đã ra đời như thế nào? Tại sao tôi lại chọn dịch nó vào lúc này? Và rốt cuộc thì nó nói chuyện gì?

Về điểm thứ nhất, tôi thấy không cần có một đoạn dài dòng về bối cảnh lịch sử và xã hội của tác phẩm ở đây. Một là nó rất dễ chán. Mà hai là khi đọc vào chuyện, bạn sẽ có các thông tin này qua những chú thích cụ thể, đúng lúc, đúng chỗ, và sẽ thấy bối cảnh của cuốn sách hiện dần lên, sinh động và thú vị hơn nhiều.

Về chuyện tại sao tôi lại chọn dịch Utopia, thì phải xin phép được dài dòng một tí như sau:

Những năm đầu của thập kỷ 70 thuộc thế kỷ trước, tôi đang làm cho chương trình tiếng Anh của Đài Tiếng nói Việt Nam. Mỗi tháng chúng tôi nhận được khoảng bốn đến năm trăm bức thư của các thính giả Âu Mỹ. Rất nhiều người trong số này thuộc thế hệ thanh niên Mỹ phản đối cuộc chiến tại Việt Nam, và tự nhận là nhân tố của một cuộc cách mạng mới đang biến nước Mỹ tư bản chủ nghĩa thành một vườn địa đàng trong đó tư hữu sẽ bị tiêu diệt và mọi người sẽ sống với nhau như anh em, chỉ còn tình yêu, không còn lòng tham và đố kỵ. Những bức thư ấy thường nhắc đến một cuốn sách được coi là bản tuyên ngôn cách mạng của thế hệ sinh viên Mỹ lúc bấy giờ, là cuốn The Greening of America (Làm xanh đất Mỹ) của một giáo sư luật tại trường Đại học Yale là ông Charles Reich, xuất bản lần đầu vào năm 1970. Tôi đã được đọc nó. Cuốn sách tuyên bố tuổi trẻ Mỹ đã tiến hoá lên một lương tri mới, hết mặc cảm và lo âu, không phán xét, không cạnh tranh, không sống vì vật chất, đầy lòng cảm thông, trung thực, không lừa mị, không hung hăng, vì cộng đồng, và không màng gì đến địa vị và sự nghiệp. Lương tri mới mẻ ấy đang nở rộ như hoa tươi đâm lên từ hè phố, và hứa hẹn “một lí trí cao cấp hơn, một cộng đồng nhân bản hơn, và một cá nhân mới tự do hơn. Tạo tác cuối cùng của nó sẽ là cái đẹp và cái lành mạnh mới mẻ tồn trường – tái tạo lại mối quan hệ của con người với chính mình, với mọi người, xã hội, thiên nhiên và đất đai.”

15 thg 12, 2009

Ariya Glơng Anak (vô danh Chàm)

Ariya Glơng Anak (vô danh Chàm)


Nhìn trước ngoảnh sau còn ai đâu
Gia sản để lại nhiều, cất nơi nào cho an

Phan Rang, Phan Rí, Lòng Sông,
Phú Hài đâu là con đường?
Quyết nhai sắt cho vỡ tan, hai hàm răng ta vỡ nát

Đất nước tội chi mà chưa được cứu thoát
Đã dâng chuộc khắp sứ nào khác, còn vướng mắc nơi đâu?

Đến năm ngọ người sẽ ban giao
Lửa thiêng cháy xóm thôn làm u ám rủ buồn

Đã bao lần đứng ngống chẳng thấy tàu nào từ phía trời đông 
Muốn uống khô nước đại dương cho người đi trở lại

Tháng bảy, đức vua kịp về tới
Ba vị quan cùng đến, ấy đất Kawei

Ba tiếng sấm vang to làm chột dạ này
Mặt đất cũng lung lay, triều đình cũng rúng động

Giữ gốc, lưu lấy thân dù có ngắt ngọn
Khoanh vùng cho rễ được sống, kẻo phí giống dân người

Phân chức quan trấn giữ đất Panduranga
Họ có vây ta khắp bến bờ là để giữ nòi giống cho mình

Sấm vang động, biển dậy sóng, rừng ngả nghiêng
Anh chẳng kể gì em, chú không nhìn nhận cháu

Thấy hận thù mà lòng ta vui thú
Đạo đức đã thất tán, người đã lấy đi ngay ban đầu

14 thg 12, 2009

Nếp Gấp



Nếp gấp


Nếp gấp đã đậm nét rồi

anh có thể      tự chạm      chạm đều
đến khi chai sạn đôi bàn tay
anh có thể      tự vạch      vạch lối
đến khi nhức mỏi đôi bàn chân
anh có thể       tự kiếm      kiếm mồi
đến khi mòn móng vuốt, rụng hàm răng

Nếp gấp đã định   như thể hai linh hồn bẻ đôi
anh níu đời anh      chỉ trong một nếp

Nếp của đọa đầy/nếp của ngóng mơ
nếp của giông bão/nếp của  tĩnh yên
nếp của nhân danh/nếp của trống trơ
nếp của ác quỷ/nếp của thiên thần

lân lân
lân lân
lân lân

tôi khép đôi môi chỉ bằng một nếp gấp.


*
Trong dòng chảy của dòng sông gấp khúc
tôi được vớt lên
để phơi khuôn mặt trên vở kịch đời sống

Người đời muốn      tôi phải giả vờ sống
tôi phải cam phận, chịu đựng tủi nhục
tôi phải vác mang những thứ mà
tôi ghét    tôi căm phẫn   tất cả cái ý muốn
của họ đều khiến tôi chết ngay lúc sống

Tôi đang đi trên bình yên giả tạo của thời cuộc
quyền hạn ở nơi tôi chỉ đủ cho tôi   chuyển màu
dệt lên thứ ánh sáng để ảnh tưởng về
tôi và những kẻ vô hồn thoáng qua đời nhau 
Tôi phải dừng lại ngắm
con đường của tuổi thơ ngỡ là thất lạc
con đường của bao phen vực tôi dậy để vượt biên lối mòn
con đường quanh co của thân
phận côi cút/hèn mọn

Giờ đây     phía trước mặt
chuỗi ngày dài mà tôi đang cố đuổi bắt
cái hân hoan    đã cuốn tôi trôi

Vẫn ở phía đâu đó ở góc khuất của nếp gấp
tôi nhìn về phía xa xăm

gập hai đầu gối, nguyện cầu.



Trích từ tập thơ "Mi & Ngôn Lời" - Michelia (2011)

13 thg 12, 2009

Thảm kịch



Thảm kịch


Bốc đồng bởi cơn điên tôi tách mình khỏi đám đông
đứng trên bục đài lịch sử tôi nhìn dọc thế kỷ
nhìn thẳng vào khuôn mặt tộc Chàm

Tộc bị gạt ra ngoài    trong hoang mang
trong sợ hãi    trong tủi nhục
họ phẫn nộ
nhưng chỉ làm cựa quậy cái hình hài của
đứa con côi    đứa con hoang
đứa con bị ruồng bỏ

Tộc bị xóa dấu
bản án lịch sử dành cho họ - là sự mất tích
không kính trọng – chỉ có lợi ích và trò bẩn thỉu vô nhân tính
không cứu rỗi - chỉ có lời nguyền rủa cho đám vô thần ô uế
không đặc ân - chỉ có sự thương hại cho cơn khốn quẫn của kẻ từ bỏ
không nhìn nhận - chỉ có sự khinh miệt cho sự hiện diện
đứa con bỏ nhà     đền tháp bỏ hoang
thần thánh cũng theo nốt

Mùa đã rụng,
bay đi đàn chim di...

12 thg 12, 2009

Hú - Allen Ginsberg




Hoàng Hưng dịch

Tặng Carl Solomon [2]


I.


Tôi đã thấy những bộ óc tuyệt vời nhất của thế hệ mình bị tàn phá bởi điên rồ, chết đói cuồng loạn trần truồng,

lê thân qua các phố người đen kiếm một liều giận dữ lúc rạng đông,

những tay hipster [3] có gương mặt thiên thần cháy lòng tìm lại sự kết nối siêu phàm xưa với chiếc đi-na-mô tinh tú trong cỗ máy đêm,

những kẻ nghèo xơ rách rưới mắt trũng say đờ ngồi đơ hút thuốc trong bóng tối siêu nhiên của những căn hộ nước lạnh bồng bềnh qua nóc các thành phố nghiền ngẫm nhạc jazz,

những kẻ phơi bày tim óc trước Thiên đường bên dưới đoạn đường xe lửa treo và nhìn thấy những thiên sứ đạo Hồi lảo đảo rực sáng trên mái chúng cư nghèo [4] ,

những kẻ đi qua các trường đại học mắt rạng rỡ tuyệt vời truyền ảo giác Arkansaw [5] & những bi kịch theo tinh thần của Blake [6] giữa các tay học giả chiến tranh [7] ,

những kẻ bị đuổi học vì điên khùng & công bố những bài ca tục tĩu trên cửa sổ đầu lâu [8] ,

những kẻ mặc đồ lót nằm co trong các căn phòng lởm chởm, đốt tiền trong giỏ rác [9] và lắng nghe Khủng bố qua tường,

những kẻ bị tóm trong râu mu quay về New York qua Laredo [10] với một ruột tượng cần sa,

những kẻ ăn lửa trong các khách sạn tồi tàn uống dầu thông ở Hẻm Thiên Đường [11] , chết chóc, hay hành xác thân mình đêm tiếp đêm

bằng những giấc mơ, bằng ma tuý, bằng ác mộng dựng người, rượu, cặc dái và giao hoan bất tận,

trong tâm tưởng những con phố cụt vô song của mây và chớp run rảy nhảy về phía các cột đèn Canada và Paterson [12] , làm bừng sáng cả thế giới bất động của Thời gian ở giữa,

những hành lang vững chãi của chất gây ảo giác [13] , những bình minh sân sau nghĩa địa cây xanh, say rượu vang trên sân thượng, những khu phố mặt tiền cửa hàng trong cuộc chạy rong của tụi cần–sa-đồ đèn đường nê-ông nhấp nháy, những rung động mặt trời mặt trăng và cây cối trong chạng vạng Brooklyn [14] mùa đông gầm rống, những huênh hoang rác rưởi và ánh sáng tâm trí hiền vương [15] ,

những kẻ tự xiềng mình vào các đường xe điện ngầm di chuyển bất tận từ Battery đến Bronx thần thánh [16] say benzedrin [17] cho tới khi tỉnh cơn vì tiếng ồn của bánh xe và trẻ nít run rảy miệng xệu óc mòn méo tất cả tinh anh kiệt quệ trong ánh sáng ảm đạm của vườn Zoo, [18]

những kẻ suốt đêm chìm đắm trong ánh sáng tù mù của tiệm Bickford trôi ra và ngồi suốt chiều bia nhạt trong quán Fugazzi tiêu điều, lắng nghe ngày tận thế từ cái máy hát hydrogen [19] ,

5 thg 12, 2009

Tôi, kẻ không là gì cả




Tôi, kẻ không là gì cả


Tôi, kẻ không là gì cả
cuộc sống ân sủng và tôi được sống
những thân phận trôi dạt nhấp môi nhại giễu cuộc đời nhau
tôi học được cách cười gượng

Trong địa hạt của tình yêu chân lý và cái chết
tôi chỉ làm kẻ hành khất đứng chôn chân ở       ngưỡng cửa
ôm mang cả nỗi thống khổ lẫn niềm vui… hớ
người đời vẫn mặc nhiên cho điều đó

Chạm vào tình yêu
tôi dựng xây ngay một nấm mồ giữa tuổi thanh xuân
kể lể về kiếp người và những bóng hình thoáng qua cuộc đời
 
Chạm vào chân lý
tôi làm kẻ què cụt lê lết
nơi mà nhà nước cấp chứng chỉ cho tín ngưỡng một danh xưng, tôn giáo
không chùa chiền    không nhà thờ
không thánh đường
không giáo lý    không phép tắc

và không ai được nói gì về niềm tin
chỉ có những đền tháp bỏ hoang cho lũ Chàm ngớ mặt hãnh diện

Chạm vào cái chết
sự thờ ơ vô cảm của loài người đã dựng trước mặt tôi cánh cửa thiên đàng    và tôi
kẻ ghi danh vội bằng cái tên, không là gì cả
Nơi chốn tôi đến
những gã say và trẻ em có xu hướng nói dối
niềm tin đặt bấp bênh
những cá thể ẩn trú trong sắc màu tang trắng
huênh hoang lời sâu bọ
lá xanh trong khu vườn đã đốt trụi
bọt sóng biển cũng hóa máu

OM!
tiếp tục sống
có lẽ,
tôi vẫn là kẻ không là gì cả.



Trích từ tập thơ "Mi & Ngôn Lời" - Michelia (2011)

4 thg 12, 2009

Về tôi



Về tôi


Tên tôi, Thạch Trung Tuệ Nguyên
quê, Caklaing

dân tộc, Chàm
tôn giáo, Bàlamôn
quốc tịch, Việt Nam
gia đình, có sáu     chưa rụng quả nào

Trong một thế giới mọi thứ đều tầm thường hóa
không ai còn tin những điều phi thường
tình yêu thương      sự hi sinh
nên tôi chỉ muốn khai báo vậy thôi nhưng

Tôi ít khi quan tâm đến tên họ, quê quán, dân tộc
tôn giáo hay quốc gia
vì tôi lúc nào cũng có cảm giác một mình
hoang mang về gốc nguồn     và nơi ở

Tôi cũng ít khi quan tâm đến tuổi tác theo thủ tục hành chính
vì lẽ   tôi   không đếm ngày sống của mình bao giờ

Nhưng khi chìm trong khoảng lặng cuộc đời
tôi viết   những ngôn lời mọc lên từ ngọn lửa của con tim
có khối óc làm chất xúc tác
đôi khi tiếng ồn của nó tác động đến thái độ của người khác
việc đó đối với tôi chẳng có gì quan trọng

3 thg 12, 2009

Giới thiệu tập thơ "Mi & Ngôn Lời" - Michelia


Ở thời điểm mà màn đêm lên men

Linga-Yoni (nguồn ảnh: internet)



Ở thời điểm mà màn đêm lên men


Đằng sau sự vụng về của chúng ta là sứ mệnh
của tình yêu
niềm tin và đam mê
thiêng liêng và nhục cảm

Em – thiên sứ đến nhen nhóm trong ta ngọn lửa
đốt cháy niềm vô cảm
ở thời điểm mà màn đêm lên men
ta đắm chìm trong vòng tay ôm và đôi ngực căng tròn em

Hơi thở toát ra từ toàn thân cóng lạnh
- bởi cơn gió và sự nghi hoặc
ta chạm vào mùi hương của làn tóc
của da thịt em
định vị lại nhịp điệu của con tim yếu mềm
đang đập loạn xạ trong lồng ngực

Chính ngay lúc ấy
chúng ta tìm được cái nguyên thủy của thú tính
và lạc dục đang ẩn tàng trong người
những tiếng kêu rên không rõ âm lời
khi ta mân mê – cái thân thể đang thèm muốn
óc não ta như tróc vỏ tước đi những khối lo/ những khối nặng

Khiến ta phải chịu đựng những gì đã, đang vụt qua và
sắp đến - ta chạm vào nhau
nơi u tối của tâm hồn - là sự nhục dục
nơi tự do của lương tâm - là sự phản loạn

trong cơn say miên viễn
- ta đạp lên sự tha hóa của đời sống thường nhật

Ôi! ta đang ở rất gần em
chỉ một bước nữa là đi xuyên qua người em
nhưng ta đã dừng ở đó rất lâu
nơi ta và em đang bão hòa cái lingayoni  của tồn sinh nhân thế
nơi ta và em đang say với trò chơi ái ân
để không còn cảm thấy sự tồn tại của mình nữa

Nhưng đó cũng là nơi
mà nguồn đam mê có đó nhưng thoáng rất nhanh
rồi ta trở về căn nhà
nơi ta hoài nghi những gì đã xảy ra
ta kiếm tìm những gì giống như thế trong
nghĩa địa ký ức   chỉ thấy em, người đàn bà đến lay ta tỉnh giấc
lúc đêm khuya.



Trích từ tập thơ "Mi & Ngôn Lời" - Michelia (2011)